Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN

Cuối Học kỳ 1 năm thứ 2, Lớp KTCT K23 về thực tập môn kinh tế nông nghiệp tại Huyện Hải Hậu Nam Định, một huyện anh Hùng.

Buổi sáng, những chiếc xe Hải âu cũ chở sinh viên và thực phẩm từ Thượng Đình về Nam Định. Các bạn nữ được ưu tiên ngồi các dãy ghế phía trước, nam giới ngồi phía sau. Đỗ Ngọc Dũng (Dũng móm) và một số bạn nam lên xe trước đã đứng dậy nhường chỗ cho các bạn nữ rồi chuyển xuống phía sau đứng cạnh mấy sọt rau.

Rời Hà nội, những chiếc xe xuôi hướng nam trong gió trời se lạnh. Ngay tư khi lên xe, những tiếng cười đùa trêu chọc đã náo nhiệt. Bùi Công Chính ôm cây đàn ghi ta và cất tiếng hát với những bài hát chế lại lời vui nhộn càng làm cho tính cách sinh viên sôi động.

Về tới Hải Hậu thấy Dũng móm đi trước và cả 1 đàn ruồi bâu quanh mông của Dũng, lúc đầu tôi không để ý sau nhìn lại thấy đàn ruồi vẫn bâu quanh, phía sau quần Dũng có những mảng ướt và ruồi cứ tập trung quanh đó. Tôi nói Dũng đứng lại thì phát hiện mùi tanh và những mảng bê bết trắng vàng… Hóa ra cu cậu vì nhường ghế, đôi khi mỏi đã ngồi lên sọt rau ai ngờ làm vỡ trứng. Cất ba lô xong Dũng nhảy xuống cái ao đục ngầu trong cái lạnh để tắm, nhiều người hỏi lạnh thế mà cũng tắm à. Dũng lập cập trả lời: Tớ thích (cập cập…) tắm ao ( cập cập…) từ bé. Hai hàm răng Dũng gõ liên hồi. Chẳng ai hiểu, chỉ có tôi và lũ ruồi mới hiểu vì sao Dũng tắm ao trời lạnh.

 Tại Hải Hậu, lớp được phân ra thành nhiều nhóm bám sát dân, tôi thuộc nhóm “Huyện”. Bọn con trai chúng tôi ở trong 1 cái nhà to, anh Hải là người anh chững chạc nhất chỉ bảo chúng tôi và được cô Thu giao trách nhiệm quản lý nhóm. Hàng ngày chúng tôi vào các cơ quan huyện, xuống HTX để lấy tư liệu. Sự thật thì tài liệu chẳng có gì nên cũng chẳng biết viết gì, chỉ biết rằng mình đang đến 1 huyện anh hùng quê hương của chị 2 năm tấn có những cánh đồng lúa xanh.

Những buổi chiều, sau bữa cơm, chúng tôi thường kéo nhau ra ngồi bên bờ sông Ninh cơ nhìn những chiếc thuyền cập bờ, ngồi chán rồi về ngủ. Cũng may ở bên Huyện có 1 thư viên nhỏ (gọi là thư viên nhưng chỉ có hơn trăm cuốn sách, không nhân viên thủ thư, ai muốn lấy sách thì cứ tự nhiên, mượn rồi tự giác trả…). Từ ngày phát hiện ra cái “thư viện” những buổi chiều đỡ nhàm chán hơn. Một buổi sáng chủ nhật, Cô Thu trưởng đoàn thông báo sẽ đưa sinh viên về xã Hải Thanh thăm anh Nguyễn Ngọc Ký. Tôi mừng hết nói vì từ những ngày học cấp 1 tôi đã được đọc:” Những năm tháng không thể nào quên” viết về cuộc đời anh Nguyễn Ngọc Ký. Cuốn sách rất hay và ám ảnh tâm trí tôi. Cô trò chúng tôi đạp xe, chở nhau từ xã Hải Bắc về xã Hải Thanh, khoảng chừng 6-7 km. Những làn gió sớm lướt nhẹ trên những cánh đồng xanh mướt cùng nỗi háo hức đưa chúng tôi về thăm anh Ký. Chúng tôi dừng lại trước cánh cổng tre đơn sơ, Anh Ký, một người đàn ông dong dỏng cao, hai ống tay thõng xuống đang cuốc đất bằng chân ngẩng lên. cô Thu giới thiệu: Thầy trò trường ĐHTHHN chúng tôi về thăm anh.


Gạt cái cuốc sang một bên anh Ký tươi cười mời chúng tôi vào nhà. Sau khi rửa chân, xoa chân anh Ký ngồi lên cái phản giữa nhà. Cô Thu và chúng tôi ngồi vây quanh. Anh Ký dùng chân phải nhẹ nhàng kéo cái giỏ tre đựng cái ấm tích vào gần rồi dùng 2 ngón chân phải mở nắp giỏ tre. Những ngón chân của anh thành thạo, chân phải quắp chỗ tay cầm của cái phích chân trái quắp cái dây mở nắp phích rồi chân phải nhẹ nhàng rót nước sôi tráng cái ấm. Sau khi đậy nút và đặt cái phích xuống phản anh dùng 2 chân xoay cái nắp hộp trà rồi nghiêng nghiêng đổ trà vào ấm. Những bàn chân và ngón chân của anh tiếp tục mở nắp phích rót nước nóng, đậy phích và chờ cho trà ngấm trước những con mắt ngỡ ngàng của cô trò chúng tôi. Lúc ấy mọi người quá ngạc nhiên ngồi ngây lặng mà không có ai đứng dậy đỡ cho anh chuyện pha nước. Sau này nghĩ lại chúng tôi rất áy náy nhưng có lẽ anh Ký đã quen với sự sững sờ của khách và anh không để ý. Sau khi nước ngấm, đôi chân của anh lại tiếp tục rót nước và đẩy những ly trà đậm đà tới từng người. Những ngón chân phải quắp chỗ cầm của chiếc chén, rồi anh đặt gót chân phải lên trên đùi trái và rất nhẹ nhàng anh Ký chỉ nâng nhẹ chân trái là chiếc ly đã sát bên môi anh. Nhấp 1 ngụm trà, hạ chân trái để chân phải đặt chiếc ly xuống anh bắt đầu trao đổi với cô Thu về công việc, về cuộc sống. Anh kể: Khi còn là sinh viên khoa Văn Đại học tổng hợp Hà nội, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã 2 lần mời anh tới ăn cơm. Sau khi ra trường anh được lựa chọn nơi công tác và anh đã trở về chính mảnh đất Hải Thanh quê hương anh. Phòng giáo dục đã trao quyết định giáo viên cấp 2 cho anh và nhà trường đã làm cho anh một chiếc bảng đặc biệt có thể kéo xuống để anh viết bằng chân, kéo lên để anh giảng bài. Chi đoàn Xã cũng cử một đoàn viên xuất sắc giúp đỡ anh và rồi vì cảm mến người thanh niên tàn tật, có tài và giàu nghị lực mà cô gái đôn hậu ấy đã Thành vợ anh. Kể đến đây anh Ký ngoái lại nhìn người vợ đang luôn tay với công việc trong nhà.
- Chị vất vả quá, Anh Ký thật may có chị. Cô Thu quay sang chia sẻ với vợ anh Ký
- Ôi, anh ấy làm cả đấy, cuốc đất, chặt củi, giặt quần áo cái gì anh ấy cũng làm. Vợ anh Ký vừa làm việc nhà vừa trả lời cô Thu.

 Hớp 1 ngụm nước anh Ký ngước nhìn vườn rau xanh tốt, ánh mắt anh chứa chan lòng biết ơn người vơ và chúng tôi hiểu: có những hạnh phúc thật giản dị, chẳng cần lên vũ trụ, không cần làm vua. Hạnh phúc đơn giản là sự yêu thương và biết ơn những người thân yêu của mình.

Chúng tôi trở lại Hải Bắc với nhiều suy tư. Những ngày sau, nhiều cậu con trai trong lớp bị nước nóng đổ ướt đũng quần nhảy câng cẫng lên vì bắt chước anh Ký dùng chân uống nước. Thế mới biết, để làm điều khó cần phải có nghị lực và có nghị lực thì có thể làm được những điều tưởng như không tưởng.

36 năm trôi qua, có biết bao sự kiện trong cuộc đời nhưng chuyến đi thực tế Hải hậu với lớp KTCT K23 và cuộc gặp với con người mà nghị lực đã vượt lên số phận là những ký ức không thể nào quên và bên cạnh bản thu hoạch mà chúng tôi nộp cho cô Thu còn có 1 bản thu hoạch còn đọng lại đến hôm nay.

4 nhận xét:

  1. Đúng rồi, sau đợt nghỉ tết, vào năm 1980, dịp tháng 3 cả lớp mình đi thực tập ở Hải Hậu, với Liên đây là những ngày đáng nhớ, lần đầu tiên xâm nhập, tìm hiểu thực tế để có một báo cáo thực tập, thực ra là sản phẩm khoa học (cứ gọi vậy cho nó oách) đầu đời đấy. Bài viết chắc là ngô nghê lắm nhưng rõ ràng là của mình, chăng có sao chép được của ai, chẳng modify của ai được như sinh viên bây giờ có mạng internet hỗ trợ, vậy mà chúng ta vẫn trưởng thành, tự hào lắm chứ. Sinh viên ngày nay không còn có cơ hội được có những đợt thực tập dài ngày cùng ăn cùng ở như mình ngày xưa đâu. Đấy cũng là một thiệt thòi đấy, được sống với tập thể, vui buồn chia sẻ cùng nhau, nhiều kỳ niệm lắm. Ước gì cho đến ngày xưa nhỉ.
    Thân mến
    Đào Phương Liên

    Trả lờiXóa
  2. Hai bài viết của anh Tự Minh gợi lại cho chúng ta nhiều kỷ niệm không thể nào quên. Có lẽ anh Minh làm thêm cái nghề viết văn nữa. Lại nhớ tới mấy bài thơ phổ nhạc của anh mà lớp mình có dịp nghe trong buổi biểu diễn ở Huế năm ngoái.
    Nói về chuyện thực tập, tôi nhớ ngay từ học kỳ I năm thứ nhất, lớp ta đi tham quan hai nhà máy ngay bên cạnh Xà Phòng HN và Cao Su Sao Vàng. Ấn tượng tôi thấy là công nhân mình quá khổ, làm việc trong môi trường vô cùng độc hại, chắc chắn nhiều người tổn thọ. Mấy chục năm trôi qua, ngày nào cũng vào trường mà tôi chưa có lúc nào thăm bên trong hai cái nhà máy đó, không biết ai mất,
    ai còn, những con người cần mẫn.
    Nguyễn Quang Hưng

    Trả lờiXóa
  3. Nhận xét này đã bị tác giả xóa.

    Trả lờiXóa
  4. Đúng là Ước gì cho đến ngày xưa. Năm thứ nhất, lớp mình đã có đợt Trải nghiệm cược sông sở Ba vì. Lần đầu tiên cả lớp được ăn tập thể, ngủ tập thể, chơi cũng tập thể. Hôm lên núi, vui quá nên có một nhóm quen mất đường xuống núi, tối mò mà chưa về làm cả lớp hoảng quá. Thầy Ly và mấy bạn trai trong lớp đi tím, còn bọn con gái ngồi nhà " cầu nguyện" ơn giời cuối cùng tối khuya mọi người cũng có mặt đầy đủ. Hú vía....

    Trả lờiXóa